BẾN NHÀ RỒNG – DẤU CHÂN ĐẦU TIÊN TRONG HÀNH TRÌNH  TÌM ĐƯỜNG CỨU NƯỚC CỦA NGUYỄN TẤT THÀNH
Nguyễn Thị Ngọc Nhi – GV Lịch sử

Đầu thế kỉ XX, phong trào cách mạng trên thế giới đã có bước chuyển đáng kể, một khuynh hướng đấu tranh cách mạng mới ra đời – cách mạng vô sản. Phong trào đấu tranh cách mạng theo khuynh hướng dân chủ tư sản đã lỗi thời, không còn phù hợp với sự lớn mạnh của chủ nghĩa đế quốc. Trong khi đó, ở Việt Nam, đây lại là lúc phong trào cách mạng theo khuynh hướng dân chủ tư sản phát triển rầm rộ. Mặc dù đa số nhân dân Việt Nam đều yêu nước, hưởng ứng phong trào và sẵn sàng đứng lên chống thực dân Pháp nhưng tất cả các phong trào này đều rơi vào trạng thái loay hoay, không tìm ra được cách giải quyết các mâu thuẫn cơ bản của dân tộc Việt Nam lúc bấy giờ. Một bài toán đặt ra: đâu là con đường cứu nước đúng đắn cho một dân tộc đang bị hai tầng áp bức, bóc lột của thực dân và phong kiến như Việt Nam? Nhận thấy con đường cứu nước mà các bậc tiền bối đã và đang đi không khả quan, không thể giải bài toán khó của dân tộc, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành quyết chí rời quê hương để tìm lối đi riêng cho đất nước. Cách đây hơn một thế kỉ, người con xứ Nghệ – Nguyễn Tất Thành – đã đến Sài Gòn rồi từ biệt thành phố hoa lệ này để đến những nơi phồn hoa khác trên thế giới. Và bến Nhà Rồng chính là điểm xuất phát, là nơi in dấu chân đầu tiên trong hành trình tìm đường cứu nước của Nguyễn Tất Thành.

  1. Đôi nét về bến Nhà Rồng – một công trình kiến trúc đặc biệt

Ngày 4/3/1863, Pháp cho khởi công xây dựng ngôi nhà ba tầng tọa lạc trên ngã ba sông Sài Gòn để làm nơi ở cho viên Tổng quản lý và là nơi bán vé tàu. Ngôi nhà này nguyên là trụ sở của đại diện hãng chuyên chở hàng hải Pháp (thuộc Công ty vận tải đường biển Pháp Messageries Impériales). Dân gian vẫn quen gọi ngôi nhà này là Nhà Rồng. Hãng Messageries Impériales xây dựng bến Nhà Rồng thành một trong ba địa điểm chính của cảng Sài Gòn. Năm 1899, hãng Messageries Impériales đổi tên là hãng Messageries Maritimes với biểu tượng đầu ngựa mỏ neo ở Nhà Rồng, người ta thường gọi là hãng Đầu Ngựa.

Nhà Rồng khác hẳn hàng trăm công trình kiến trúc thời Pháp còn để lại bởi lối kiến trúc rất đặc biệt nếu không nói là dị biệt. Nhà Rồng là sự kết hợp độc đáo, lạ mắt giữa kiến trúc phương Đông và phương Tây mà người ta thường cho là “thượng ta hạ Tây”. Phải chăng kiến trúc sư muốn phương Đông hóa ngôi nhà này?

Sở dĩ dân gian đặt tên ngôi nhà này là Nhà Rồng vì trên nóc nhà có hai con rồng. Kiến trúc bên dưới của ngôi nhà theo kiểu phương Tây nhưng trên nóc lại có mái ngói cong theo kiểu đình chùa Việt Nam. Bốn cạnh mái là bốn con rồng nghểnh đầu ra bốn phía, trên đỉnh là hai con rồng làm bằng đất nung tráng men xanh, uốn khúc châu đầu vào hình mặt trăng theo mô típ “lưỡng long chầu nguyệt”. Tuy nhiên, kiến trúc sư đã khéo léo thay đổi ở giữa, thay vì trái châu thì là chiếc phù hiệu mang hình “Đầu ngựa và chiếc mỏ neo” để phù hợp với biểu tượng của hãng tàu Messageries Maritimes. “Đầu ngựa” hàm chỉ thời trước ở Pháp, công ty này chuyên chở hàng bằng đường bộ với ngựa kéo xe, còn “mỏ neo” tượng trưng cho tàu thuyền. Với kiểu kiến trúc độc đáo đó nên nơi này còn được gọi là Nhà Rồng. Còn có thuyết khác cho rằng: Nhà Rồng theo nghĩa Hán là Gia Long (“Nhà” là “Gia”, “Rồng” là “Long”). Bến Nhà Rồng được người Pháp đặt để nhớ tới quan hệ của vua Gia Long với nước Pháp. Người lớn tuổi lại gọi ngôi nhà này là Sở Ông Năm, vì hãng tàu biển này do quan năm Pháp Domergue đứng ra sáng lập. Vào tháng 10/1865, người Pháp cho dựng cột cờ Thủ Ngữ. Đây là cột treo cờ hiệu để cho tàu thuyền ra vào cảng nên biết vào ngay hay chờ đợi. Năm 1893, trụ sở công ty Nhà Rồng dùng đèn điện, dùng bóng đèn 16 nến, sáng leo lét, kém xa mấy ngọn đèn lồng thắp dầu lửa mà tòa đô chính cho thắp thử ở đường Catinat (nay là đường Đồng Khởi).

Bến Nhà Rồng thời bấy giờ là một thương cảng lớn của Sài Gòn. Cầu tàu ở đây lúc đầu dài 350m, phí tổn gần 3 triệu France, gồm một dãy cầu bằng ván dày lót trên những chiếc cột bằng sắt. Con tàu đầu tiên của hãng đã rời bến Nhà Rồng ngày 23/11/1862. Năm 1955, sau khi thực dân Pháp thất bại ở Việt Nam, thương cảng này được chuyển giao cho chính quyền Việt Nam cộng hòa quản lý. Họ đã cho tu bổ lại mái ngôi nhà và thay thế hai con rồng cũ bằng hai con rồng khác với tư thế quay đầu ra.

  1. Nguyễn Tất Thành từ bến Nhà Rồng ra đi với hai bàn tay trắng nhưng trái tim yêu nước đầy nhiệt huyết

Trước khi đến Sài Gòn, Nguyễn Tất Thành đã dừng chân ở nhiều nơi trên dải đất miền Trung. Tháng 5 năm 1909, ông Nguyễn Sinh Sắc được cử nhận chức tri huyện ở huyện Bình Khê, tỉnh Bình Định (nay là huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định). Nguyễn Tất Thành cũng từ giã Huế theo cha vào Bình Định. Để tiếp tục việc học tập, từ tháng 9 năm 1909, Nguyễn Tất Thành được cha gửi đến Quy Nhơn để học thêm tiếng Pháp với thầy giáo Phạm Ngọc Thọ dạy tại trường tiểu học Pháp – bản xứ Quy Nhơn theo chương trình lớp cao đẳng. Nguyễn Tất Thành ở Bình Định khoảng hơn 12 tháng và Người từ giã Quy Nhơn vào một ngày đầu thu năm 1910 (tháng 8/1910). Từ nửa sau tháng 9/1910 đến trước tháng 2/1911, Nguyễn Tất Thành dạy chữ Hán và chữ quốc ngữ cho học sinh lớp nhì ở trường Dục Thanh (Phan Thiết). Thời gian đầu, thầy Thành ở nhờ nhà cụ Hồ Tá Bang, sau chuyển ra ở cùng với học sinh nội trú của trường tại nhà Ngư trong vườn cụ Nguyễn Thông.

Đi suốt chiều dài đất nước, Nguyễn Tất Thành được chiêm ngưỡng cảnh đẹp non sông đất nước và càng thêm yêu quê hương Việt Nam hơn. Tuy nhiên, đi đến đâu, dù ở Bắc Kỳ, Trung Kỳ hay Nam Kỳ, anh thanh niên này cũng thấy những cảnh tượng đau lòng mà thực dân Pháp gây ra đối với nhân dân ta. Trong thời gian ngắn lưu lại tại Phan Thiết, Nguyễn Tất Thành luôn suy tư, trăn trở về vận mệnh của tổ quốc, luôn nung nấu hoài bão tìm cách sang phương Tây để xem “họ làm như thế nào rồi trở về giúp đồng bào chúng ta”.

Đầu năm 1911, Nguyễn Tất Thành rời Phan Thiết đi vào Sài Gòn nhằm thực hiện quyết tâm, hoài bão của mình. Để sống và tìm cách đi ra nước ngoài, Nguyễn Tất Thành phải làm những công việc lao động chân tay trên đất Sài Gòn. Nguyễn Tất Thành xin vào làm và học ở một trường đào tạo nhân viên và công nhân hàng hải. Ở đây anh có điều kiện làm quen với một số người làm ở hãng Vận tải hợp nhất, với không khí cuộc sống bến cảng, với tàu biển và tiếp xúc với văn hóa, kỹ thuật, con người phương Tây. Nhưng điều quan trọng hơn hết là Nguyễn Tất Thành cần kiếm một công việc để nuôi sống bản thân. Sau này, chính Hồ Chủ tịch đã tâm sự rằng:“Bác đâu có ý định học thợ nhưng trong lúc lang thang để tìm cách sang phương Tây, mà có nơi nào cho mình học, có cái ăn là mình vô thôi”.

Nguyễn Tất Thành sinh ra và lớn lên trong một gia đình nhà nho, là một thư sinh gốc nhưng đến Sài Gòn, Nguyễn Tất Thành sẵn sàng làm mọi việc chân tay miễn sao đó là việc làm lương thiện. Trước khi xuống tàu đi ra nước ngoài, Nguyễn Tất Thành đã từng bàn bạc và rủ một người bạn đi cùng. Anh nói: “Tôi muốn đi ra ngoài, xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi xem xét họ làm như thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta. Nhưng nếu đi một mình, thật ra cũng có điều mạo hiểm, ví như khi đau ốm… Anh muốn đi với tôi không?”. Khi người bạn hỏi lấy đâu ra tiền mà đi, anh Thành vừa nói vừa giơ hai bàn tay: “Đây, tiền đây… chúng ta sẽ làm việc. Chúng ta sẽ làm bất cứ việc gì để sống và để đi”. Câu trả lời của Nguyễn Tất Thành chứng tỏ tinh thần tự lập, tự lực của người thanh niên có ý chí, có quyết tâm và hết lòng vì dân vì nước. Âu đó cũng là truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam. Từ xưa ông cha ta đã đúc rút: “Bàn tay ta làm nên tất cả. Có sức người sỏi đá cũng thành cơm”. Và nay, Nguyễn Tất Thành một lần nữa khẳng định điều đó khi Người:

Đi làm cách mạng hai tay trắng

Mẩu bánh mì đen chiếc áo sờn 

(Đi làm cách mạng – Khương Hữu Dụng)

Nguyễn Tất Thành thường tạm trú và qua lại vùng cảng Nhà Rồng nên rất chú ý đến các hãng tàu. Anh Thành biết 2 công ty tàu biển lớn chạy tuyến đường Pháp – Đông Dương là: hãng Messageries Maritimes và hãng Chargeurs Réunis (còn gọi là hãng Năm Sao). Hãng Năm Sao có dán nhiều quảng cáo in bằng hai thứ tiếng Pháp và Hán, ghi hành trình: Sài Gòn, Tourance, Hải Phòng, Singapore, Colombo, Gibouti, Port Said, Marseille, Bordeaux, Le Harve, Dunkerque… Điều đặc biệt là hãng Năm Sao có tuyển “Bồi An Nam” để phục vụ khách trên tàu, làm phụ bếp với thời gian làm việc từ 4g sáng đến 9g tối.

Ngày 2/6/1911, Nguyễn Tất Thành xin làm việc ở tàu Amiral Latouche Tréville, một tàu lớn vừa chở hàng vừa chở khách của hãng Năm Sao đang chuẩn bị rời cảng Sài Gòn đi Mác-Xây (Pháp). Tàu dài 124,1m, rộng 15,2m, chạy máy hơi nước có 2.800 mã lực, trọng tải 5.572 tấn. Tuy nhiên, theo các nhà nghiên cứu Trần Văn Giàu và Trần Bạch Đằng thì thời kỳ 1911-1913, tại bến Nhà Rồng, tàu lớn chưa đậu được và chiếc Amiral Latouche Tréville chỉ ra vào được bến Nguyễn Huệ (cầu tàu Charner). Qua câu chuyện của một số người được Hồ Chí Minh kể lại thì bấy giờ Người không xuống thuyền một cách dễ dàng. Anh Thành phải ngồi trên một chiếc thuyền con chèo ra cặp nạm tàu, 1 chiếc giỏ từ trên thả xuống, anh ngồi vào và chiếc giỏ được kéo lên, anh lặng lẽ theo một người hướng dẫn trình diện bếp trưởng và trưởng tàu. Từ ngày 3/6/1911, Nguyễn Tất Thành bắt đầu làm việc trên tàu Amiral Latouche Tréville, nhận thẻ nhân viên của tàu với tên mới: Văn Ba.

Ngày 5/6/1911, Nguyễn Tất Thành từ cảng Nhà Rồng, thành phố Sài Gòn rời tổ quốc với hai bàn tay trắng nhưng mang theo mình một trái tim yêu nước đầy nhiệt huyết. Sau này, một số người muốn làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Hồ Chủ tịch đã tung ra nhiều luận điệu gây nghi ngờ về mục đích ra đi của Nguyễn Tất Thành. Thực tế lịch sử đã chứng minh Người ra đi không phải để kiếm kế sinh nhai, hay để thỏa mãn một ước mơ xa lạ nào đó của tuổi trẻ, hay để phục vụ một mục đích cá nhân nào. Người ra đi để làm quen với nền văn minh Pháp và muốn tìm xem những gì ẩn giấu đằng sau những từ “Tự Do – Bình Đẳng – Bác Ái” mà Pháp đã đưa ra.

Vấn đề đặt ra là tại sao Nguyễn Tất Thành lại đến Sài Gòn để ra đi mà không phải là Đà Nẵng hay Hải Phòng? Nguyễn Tất Thành ra đi từ Sài Gòn cho thấy Sài Gòn có vai trò rất lớn. Lúc bấy giờ, Sài Gòn hội đủ những yếu tố để Nguyễn Tất Thành chọn làm nơi bắt đầu cho hành trình của mình. Đó là:

– Sài Gòn là nơi đầu tiên của Việt Nam bị thực dân Pháp xâm lược. Thực dân Pháp sớm biến Sài Gòn thành một đô thị phồn hoa vào loại bậc nhất của Việt Nam. Do đó, “Hòn ngọc Viễn Đông” này là nơi tiếp xúc với nền văn minh phương Tây sớm nhất, nơi tiếp nhận nhiều luồng tư tưởng tiến bộ.

– Đầu thế kỷ XX, giai cấp công nhân – giai cấp mới hình thành trong công cuộc khai thác thuộc địa của Pháp – phát triển nhanh và mạnh ở Sài Gòn, vươn lên trở thành “giai cấp tự mình”. Năm 1911, ở Sài Gòn đã xuất hiện cuộc bãi công của công nhân và đã có sự phối hợp giữa công nhân Ba Son và học sinh trường Bá nghệ Sài Gòn.

– Sau khi đi khắp mọi miền đất nước, Nguyễn Tất Thành muốn đến Sài Gòn để hiểu về đời sống của nhân dân ở thành phố xa hoa nhất nước có khác với những nơi khác không nhưng nhân dân nơi đây vẫn khổ, vẫn bị thực dân áp bức bóc lột.

– Sài Gòn có hải cảng lớn và đặc biệt hải cảng này có nhiều tàu lớn qua lại. Các tàu này có lịch trình đi nhiều nơi trên thế giới. Đó là cơ hội để Nguyễn Tất Thành đến được nhiều nước để tìm hiểu về các nước tư bản phương Tây cũng như các nước thuộc địa.

  1. Giá trị lịch sử – văn hóa của Bến Nhà Rồng

Có thể nói Bến Nhà Rồng là công trình có lối kiến trúc độc nhất vô nhị ở Việt Nam. Công trình này có giá trị lịch sử – văn hóa vì được thực dân Pháp xây dựng từ lúc mới xâm lược Sài Gòn. Trải qua hàng trăm năm, ngôi nhà xưa vẫn giữ nguyên vẹn sự kết hợp kiến trúc phương Tây và phương Đông. Không những thế, bến cảng này vào năm 1911 đã chứng kiến một sự kiện lịch sử vô cùng trọng đại của dân tộc Việt Nam – sự kiện Nguyễn Tất Thành từ bến cảng này ra đi tìm đường cứu nước. Do đó, đối với Sài Gòn – Tp. Hồ Chí Minh nói riêng và cả nước nói chung, bến Nhà Rồng trở thành một di tích lịch sử – văn hóa có ý nghĩa quan trọng.

Để nhân dân nhớ đến điểm xuất phát của hành trình 30 năm (1911 – 1941) bôn ba nơi đất khách quê người của Bác Hồ, ngày 3/9/1979, Ủy ban nhân dân TP. Hồ Chí Minh quyết định lấy Nhà Rồng làm “Khu lưu niệm chủ tịch Hồ Chí Minh” (tức Bảo tàng Hồ Chí Minh – chi nhánh TP. Hồ Chí Minh). Bên trong khu nhà lưu niệm có trưng bày nhiều hình ảnh và hiện vật về đời hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Sau đó, các nhà lãnh đạo cùng với nhiều nhà nghiên cứu trăn trở chọn lựa một hình tượng mang tính lịch sử đặt tại ngôi Nhà Rồng nhằm đánh dấu sự kiện trọng đại đối với vị lãnh tụ cao quý của dân tộc Việt Nam. Cuối cùng, vào lễ kỷ niệm 92 năm ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước, bức tượng toàn thân được đúc bằng đồng, nặng hơn 1 tấn, cao 3,3 mét mang chủ đề: “Nguyễn Tất Thành – Ra đi tìm đường cứu nước” đã hoàn thành và đặt ở vị trí trang trọng nhất. Tượng Bác đứng giữa sân Nhà Rồng, nhìn về hướng Bắc, cũng là hướng ra sông Sài Gòn, bến Bạch Đằng.

Cùng với chợ Bến Thành, nhà thờ Đức Bà, dinh Độc Lập…, bến Nhà Rồng trở thành biểu tượng văn hoá của TP. Hồ Chí Minh. Mỗi ngày, Bảo tàng Hồ Chí Minh – chi nhánh TP. Hồ Chí Minh đón hàng ngàn lượt khách du lịch trong và ngoài nước đến tham quan. Nơi này không chỉ là một di tích đơn thuần mà còn trở thành nơi giáo dục truyền thống yêu nước và niềm tự hào dân tộc cho thế hệ trẻ hôm nay. Chính nơi này, học sinh và thế hệ trẻ sẽ cảm nhận được hết công lao của Bác Hồ đối với dân tộc. Ngoài ra, nơi đây còn có ý nghĩa giáo dục thế hệ trẻ về tính tự lập, tính sáng tạo, ham học hỏi, không sợ khó sợ khổ và tinh thần yêu nước. Không ai không ngưỡng mộ một người thanh niên mới 21 tuổi đi ra nước ngoài với hai bàn tay trắng.

Đến với nơi Bác đã rời Tổ quốc ra đi tìm đường cứu nước, người ta không khỏi không bùi ngùi xúc động và dễ dàng hình dung quá khứ. Ai đến bến Nhà Rồng, đứng dưới tượng Bác Hồ nhìn xa xăm ra sông Sài Gòn cũng thấy lịch sử như được tái hiện:

Bóng tối đã lùi tận góc xa

Tháng Năm sao mọc sáng muôn nhà

Bồi hồi bến cũ về thăm lại

Mây trắng Nhà Rồng nhớ Bác xưa.

(Mây trắng bến Nhà Rồng – Bảo Định Giang)

Các cơ quan, đoàn thể thường chọn bến Nhà Rồng – Bảo tàng Hồ Chí Minh làm nơi tổ chức những cuộc  biểu diễn nghệ thuật, kể chuyện truyền thống, lễ kết nạp Đảng, kết nạp Đoàn viên… Một số hội nghị khoa học liên quan đến Hồ Chủ tịch hay Đảng Cộng sản, tọa đàm giữa các thế hệ, nói chuyện chuyên đề về Bác được tổ chức tại bến Nhà Rồng – Bảo tàng Hồ Chí Minh làm tăng thêm tính trang trọng của các hoạt động này.

Trong suốt những năm tháng kháng chiến chống ngoại xâm, Bác Hồ luôn canh cánh bên lòng hai tiếng “miền Nam”. Miền Nam chưa giải phóng, nước nhà chưa thống nhất, Bác chưa yên lòng. Và Bác lo rằng mình đi đến nơi nhưng chưa về đến chốn. Từ cảng Nhà Rồng, Bác đã đi khắp nơi, đến được với chủ nghĩa Mác – Lênin nhưng Bác lo chưa về đến chốn chính là nơi Bác đã ra đi – Sài Gòn. Bến Nhà Rồng là một di tích lịch sử – văn hóa và là niềm tự hào của nhân dân TP. Hồ Chí Minh. Cách đây hơn một thế kỉ, Nhà Rồng đưa tiễn bước chân của “Người đi tìm hình của nước” và ngày nay, bến Nhà Rồng vẫn còn đó như một nhân chứng lịch sử kể lại cho các thế hệ con cháu về cuộc hành trình của bậc vĩ nhân.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Bảo Định Giang, Mây trắng bến Nhà Rồng, NXB Văn nghệ, TP.HCM, 1989.
  2. Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử, Tập 1 (1890-1929), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006.
  3. Kinh Lịch, Hồ Chí Minh – Cuộc hành trình 1911 – 1945, NXB Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2004.
  4. Nguyễn Thế Nghĩa, Lê Hồng Liêm (Cb), Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh thế kỉ XX – Những vấn đề lịch sử – văn hóa, NXB Trẻ.
  5. Nguyễn Xuân Lạc (Giới thiệu, tuyển chọn…), Thơ dâng Bác, NXB Địa học Quốc gia Hà Nội, 2000.
  6. Trần Văn Giàu, Trần Bạch Đằng (Cb), Vàng trong lửa – Chủ tịch Hồ Chí Minh với miền Nam tổ quốc, NXB Tổng hợp TP.HCM.
  7. Trình Quang Phú, Từ làng Sen đến bến Nhà Rồng, NXB Thanh niên, 2007.

BẢN TÓM TẮT BÁO CÁO

Nhà Rồng là một công trình kiến trúc độc đáo được thực dân Pháp xây dựng từ buổi đầu xâm lược Sài Gòn. Vào năm 1911, chính tại bến Nhà Rồng, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã xuống tàu Amiral Latouche Tréville trong vai trò của một người phụ bếp để ra đi tìm đường cứu nước. Người ra đi với hai bàn tay trắng nhưng mang theo mình một trái tim yêu nước đầy nhiệt huyết. Do đó, bến Nhà Rồng trở thành một di tích lịch sử – văn hóa có ý nghĩa đối với nhân dân Tp. Hồ Chí Minh và cả nước. Năm 1979, Ủy ban nhân dân TP. Hồ Chí Minh quyết định lấy Nhà Rồng làm “Khu lưu niệm chủ tịch Hồ Chí Minh” (tức Bảo tàng Hồ Chí Minh – chi nhánh Tp.HCM). Mỗi ngày, bến Nhà Rồng – Bảo tàng Hồ Chí Minh (Chi nhánh Tp.HCM) đón hàng ngàn lượt khách du lịch trong và ngoài nước đến tham quan. Nơi này không chỉ là một di tích đơn thuần mà còn trở thành nơi giáo dục truyền thống yêu nước và niềm tự hào dân tộc cho thế hệ trẻ hôm nay.