TIỂU SỬ về bác
PHẦN I. TIỂU SỬ VÀ TIẾN TRÌNH HOẠT ĐỘNG CÁCH MẠNG CỦA HỒ CHÍ MINH
Hồ Chí Minh (lúc nhỏ lấy tên là Nguyễn Sinh Cung) sinh ngày 19-5-1890 tại làng Hoàng Trù (xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An). Trong quá trình hoạt động yêu nước và cách mạng, Hồ Chí Minh có nhiều tên gọi khác nhau như Nguyễn Tất Thành, Văn Ba, Nguyễn Ái Quốc…
Cuối thế kỉ XIX, thực dân Pháp đã đặt được ách cai trị trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Từ một quốc gia độc lập, Việt Nam trở thành nước thuộc địa nửa phong kiến. Mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp ngày càng gay gắt. Nhiệm vụ cứu nước, giải phóng dân tộc trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Từ cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX, phong trào yêu nước chống Pháp dưới ngọn cờ phong kiến và cuộc vận động cứu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản đều thất bại. Con đường cứu nước và giải phóng dân tộc của Việt Nam rơi vào khủng hoảng, bế tắc.
Xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An là một trong những nơi có truyền thống đấu tranh kiên cường chống lại ách thống trị của thực dân Pháp và phong kiến tay sai. Nghệ An vốn là vùng đất có truyền thống hiếu học, khoa bảng, người dân chịu khó và cần cù trong lao động. Đây còn là vùng đất của những làn điệu dân ca ví, giặm, là quê hương của nhiều danh nhân như Trạng nguyên Hồ Tông Thốc (1324 – 1404), nữ sĩ Hồ Xuân Hương (1772 – 1822), chí sĩ yêu nước Phan Bội Châu (1867 – 1940),… Vào đầu thế kỉ XX, cuộc khai thác thuộc địa của tư bản Pháp đã dẫn đến hình thành khu công nghiệp Vinh – Bến Thuỷ. Từ đó, Nghệ An trở thành trung tâm công nghiệp, buôn bán lớn ở khu vực Bắc miền Trung. Những thanh niên, trí thức yêu nước và giai cấp công nhân có điều kiện tiếp thu nhiều tư tưởng mới của thời đại.
Hồ Chí Minh xuất thân trong một gia đình nhà nho yêu nước, thân phụ là Nguyễn Sinh Sắc và thân mẫu là Hoàng Thị Loan.
Nguyễn Sinh Sắc là một nhà nho yêu nước, từng đỗ Cử nhân tại trường thi Nghệ An (1894) và đỗ Phó bảng (1901). Ông là một tấm gương sáng về ý chí vượt khó, là người thầy mẫu mực trong dạy chữ, dạy người. Hoàng Thị Loan là con gái của nhà nho yêu nước Hoàng Xuân Đường. Bà là người sống chan hoà, giỏi làm ruộng và dệt vải, đã nuôi dưỡng các con bằng tỉnh thương yêu cùng những điệu hò, câu ví, giặm.
Sinh ra trong hoàn cảnh đất nước mất độc lập, được thừa hưởng những truyền thống, tốt đẹp của dân tộc, quê hương và gia đình, Hồ Chí Minh có sự đồng cảm với người lao động và sớm nhận thức được trách nhiệm đối với đất nước.
Từ năm 1890 đến năm 1911: Trước lúc 5 tuổi, Nguyễn Sinh Cung sinh sống tại quê nhà. Năm 1895, Nguyễn Sinh Cung theo cha mẹ vào sinh sống ở Huế. Sau khi mẹ qua đời (1901), Nguyễn Sinh Cung theo cha về quê, lấy tên mới là Nguyễn Tất Thành, được theo học những thầy giáo giỏi ở địa phương. Năm 1906, ông Nguyễn Sinh Sắc vào Huế làm quan, Nguyễn Tất Thành theo cha vào học tại Trường Tiểu học Pháp – Việt Đông Ba và Trường Quốc học Huế. Năm 1909, Nguyễn Tất Thành theo cha đến Bình Định và tiếp tục hoàn thành bậc Tiểu học tại Trường Pháp – Việt Quy Nhơn. Sớm có tinh thần yêu nước, năm 1908, Nguyễn Tất Thành tham gia phong trào chống thuế ở Huế.
Cuối tháng 8-1910, Nguyễn Tất Thành đến Phan Thiết (Bình Thuận), dạy học tại trường Dục Thanh. Tại đây. Nguyễn Tất Thành truyền thụ cho học sinh lòng yêu nước và những trăn trở về vận mệnh của đất nước. Tháng 2-1911, Nguyễn Tất Thành rời Phan Thiết vào Sài Gòn, mang theo hoài bão ra nước ngoài, xem thế giới làm như thế nào rồi trờ về giúp đồng bào.
Từ năm 1911 đến năm 1919: Nguyễn Tất Thành lấy tên là Văn Ba, rời Sài Gòn (1911) sang phương Tây tìm đường cứu nước, đi qua nhiều châu lục (châu Á, châu Âu, châu Phi và châu Mỹ) để tìm hiểu thực tiễn các nước. Cuối năm 1917, Nguyễn Tất Thành trở lại nước Pháp, tìm hiểu và tham gia hoạt động trong Đảng Xã hội Pháp (1918). Tại Hội nghị Véc-xai (1919), Nguyễn Tất Thành gửi bản Yêu sách của nhân dân An Nam để đòi quyền lợi cho dân tộc Việt Nam.
Từ năm 1920 đến năm 1945: Nguyễn Ái Quốc (từ giữa năm 1942 lấy tên là Hồ Chí Minh) hoạt động ở Pháp và Liên Xô (1920 – 1923), sau đó là Trung Quốc, Xiêm (1924 – 1930). Trong thời gian này, Nguyễn Ái Quốc đến với chủ nghĩa Mác – Lê-nin và quyết định lựa chọn con đường cứu nước giải phóng dân tộc theo khuynh hướng cách mạng vô sản (1920); chuẩn bị các điều kiện về tư tưởng, chính trị và tổ chức, sau đó thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (1921 – 1930).
Năm 1933, Nguyễn Ái Quốc trở lại Liên Xô hoạt động, nhưng vẫn theo dõi và hỗ trợ phong trào cách mạng trong nước. Sau 30 năm hoạt động ở nước ngoài, năm 1941, Nguyễn Ái Quốc trở về nước, cùng với Đảng Cộng sản Đông Dương trực tiếp chuẩn bị cho cuộc vận động giải phóng dân tộc: chủ trì Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ 8 và thành lập Mặt trận Việt Minh (5-1941), thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân (12-1944),…
Giữa tháng 8-1945, Hồ Chí Minh cùng với Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo toàn dân tổng khởi nghĩa giành chính quyền thành công, đưa tới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (2-9-1945).
Từ năm 1945 đến năm 1969: Hồ Chí Minh là Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, đồng thời giữ nhiều chức vụ quan trọng khác. Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng với Đảng Cộng sản Đông Dương (từ năm 1951 là Đảng Lao động Việt Nam) lãnh đạo nhân dân tiến hành hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 – 1954) và chống đế quốc Mỹ (từ năm 1954 đến năm 1969), tham gia xây dựng và bảo vệ chế độ xã hội mới: chế độ dân chủ nhân dân (từ năm 1945) và chế độ xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc (từ năm 1954).
Ngày 2-9-1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh từ trần tại Hà Nội.
PHẦN II. HỒ CHÍ MINH – ANH HÙNG GIẢI PHÓNG DÂN TỘC
1. Hành trình đi tìm đường cứu nước (1911 – 1920)
Từ năm 1911, Nguyễn Tất Thành đi qua nhiều châu lục, làm nhiều công việc để vừa kiếm sống, vừa tìm hiểu thực tiễn. Tử các cuộc hành trình, Nguyễn Tất Thành đã đúc kết được nhiều bài học, khẳng định: “Ở đâu chủ nghĩa thực dân đế quốc cũng tàn bạo, ở đâu những người lao động cũng bị áp bức cùng cực”.
Năm 1917, Nguyễn Tất Thành trở lại Pháp hoạt động và trở thành một trong những người lãnh đạo chủ chốt của tổ chức Hội những người Việt Nam yêu nước tại Pháp.
Trải qua gần 10 năm hoạt động, tháng 7-1920, Nguyễn Ái Quốc đọc Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lê-nin đăng trên báo Nhân đạo. Luận cương đã giúp Nguyễn Ái Quốc khẳng định: muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác ngoài con đường cách mạng vô sản. Tháng 12-1920, Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu tán thành việc gia nhập Quốc tế Cộng sản và tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp.
Con đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc xác định có nội dung cơ bản: giải phóng dân tộc gắn với giải phóng giai cấp, độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội. Trong đó, độc lập dân tộc là mục tiêu trực tiếp, chủ nghĩa xã hội là phương hướng tiến lên.
Sự kiện Nguyễn Ái Quốc tìm ra con đường cứu nước năm 1920 có ý nghĩa to lớn: bước đầu giải quyết được cuộc khủng hoảng về đường lối giải phóng dân tộc; đồng thời mở đầu quá trình chuẩn bị các điều kiện cho việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.
- Chuẩn bị và thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (1921 – 1930)
- Chuẩn bị các điều kiện cho sự ra đời của Đảng (1921 – 1929)
Sau khi xác định được con đường cứu nước, từ năm 1921, Nguyễn Ái Quốc tích cực hoạt động để chuẩn bị các điều kiện cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Chuẩn bị về tư tưởng, chính trị: Hồ Chí Minh đã vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lê-nin vào hoàn cảnh cụ thể ở một – nước thuộc địa; xây dựng lí luận cách mạng giải phóng dân tộc kết hợp giải phóng giai cấp cho phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Người là chủ nhiệm, kiêm chủ bút báo Người cùng khổ (1922) và viết bài cho các báo, tạp chí (Nhân đạo, Đời sống công nhân, Sự thật, Cộng sản, Thư tín Quốc tế,…); viết tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp (1925); sáng lập báo Thanh Niên (6-1925); mở các lớp huấn luyện, đào tạo cán bộ cách mạng tại Trung Quốc (1925-1927),…
Chuẩn bị về tổ chức: Hồ Chí Minh xây dựng mối quan hệ giữa cách mạng Việt Nam với thế giới: hoạt động trong Đảng Cộng sản Pháp, thành lập Hội liên hiệp thuộc địa (1921), hoạt động ở Liên Xô và Quốc tế Cộng sản (1923 – 1924), cùng với một số nhà yêu nước các nước thành lập Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức ở Á Đông (1925),… Hồ Chí Minh tìm hiểu và tập hợp thanh niên trí thức yêu nước ở hải ngoại để thành lập các tổ chức tiền thân của Đảng: Thanh niên Cộng sản đoàn (2-1925) và Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên (6-1925)
a. Triệu tập, chủ trì hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (đầu năm 1930)
Những hoạt động tích cực của Nguyễn Ái Quốc và Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên đã thúc đẩy khuynh hướng cách mạng vô sản phát triển mạnh, đưa tới sự ra đời của ba tổ chức cộng sản trong năm 1929. Tuy nhiên, ba tổ chức lại hoạt động riêng rẽ, tranh giành ảnh hưởng lẫn nhau, cản trở sự đi lên của cách mạng. Sự xuất hiện của ba tổ chức cộng sản chứng tỏ khuynh hướng vô sản đã giành được ưu thế trong phong trào dân tộc. Tuy nhiên, ba tổ chức đó lại hoạt động riêng rẽ, tranh giành quần chúng, phê phán lẫn nhau. Phong trào cách mạng Việt Nam đứng trước nguy cơ chia rẽ.
Trong giai đoạn này, Nguyễn Ái Quốc đang hoạt động ở Xiêm (Thái Lan) nhưng luôn theo sát tình hình trong nước. Trước nhu cầu cấp bách của phong trào cách mạng, với tư cách là phái viên của Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đã chủ động triệu tập đại biểu các tổ chức cộng sản đến Cửu Long ( Hồng Công – Trung Quốc) để tiến hành hợp nhất.
Hội nghị bắt đầu diễn ra từ ngày 6-1-1930. Trong Hội nghị này, Nguyễn Ái Quốc nêu ra những điểm lớn cần thảo luận và thống nhất gồm: bỏ mọi xung đột cũ, thống nhất các nhóm cộng sản ở Đông Dương; định tên Đảng là Đảng Cộng sản Việt Nam; thảo luận Chính cương và Điều lệ sơ lược của Đảng; định kế hoạch việc thống nhất trong nước và cử một Ban Chấp hành Trung ương lâm thời.
Hội nghị tán thành ý kiến của Nguyễn Ái Quốc, thông qua các văn kiện do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo. Trong đó, Chính cương vắn tắt và Sách lược vắn tắt của Đảng đã phản ánh những vấn đề chiến lược và sách lược của Đảng. Hai văn kiện trên được xem là Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam. Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo là một cương lĩnh giải phóng dân tộc sáng tạo, kết hợp đúng đắn vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp.
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là kết quả của sự vận động phát triển và thống nhất của phong trào cách mạng trong cả nước. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Nguyễn Ái Quốc với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam. Từ đây, cách mạng Việt Nam được đặt dưới sự lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam, một đảng có đường lối cách mạng khoa học và sáng tạo, tổ chức chặt chẽ và đội ngũ cán bộ kiên trung. Cách mạng Việt Nam đã trở thành một bộ phận khăng khít của cách mạng vô sản thế giới. Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố hàng đầu quyết định đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.
b. Chuẩn bị và lãnh đạo Cách mạng tháng Tám năm 1945
Cuối tháng 1-1941, nhận thấy tình hình thế giới và trong nước đang có những chuyển biến tích cực, Nguyễn Ái Quốc về nước để trực tiếp lãnh đạo cách mạng và đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với cách mạng Việt Nam giai đoạn 1941 – 1945.
Triệu tập và chủ trì Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ 8 (5-1941): Hội nghị khẳng định “nhiệm vụ chủ yếu trước mắt của cách mạng Việt Nam là giải phóng dân tộc”; đề cao quyền dân tộc tự quyết; xác định hình thái và phương pháp giành chính quyền là đi từ khởi nghĩa từng phần tiến lên tổng khởi nghĩa; nhấn mạnh công tác chuẩn bị cho khởi nghĩa là nhiệm vụ trung tâm của toàn Đảng, toàn dân. Hội nghị của Đảng đã hoàn chỉnh đường lối chuyển hướng chiến lược cách mạng của Đảng, ghi nhận sự trở lại của tư tưởng Hồ Chí Minh trong Cương lĩnh chính trị đầu năm 1930 và phát triển lên một tầm cao mới.
Sáng lập Mặt trận Việt Minh (19-5-1941): Tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ 8, Nguyễn Ái Quốc đưa ra sáng kiến thành lập ở mỗi nước Đông Dương một hình thức mặt trận riêng. Tại Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đề nghị lấy tên là Việt Nam độc lập đồng minh (Việt Minh), ra báo Việt Nam độc lập để tuyên truyền.
Xây dựng và mở rộng căn cứ địa cách mạng: Sau khi trở về nước (1941), Nguyễn Ái Quốc chọn Cao Bằng làm thí điểm để xây dựng căn cứ địa đầu tiên của cách mạng, sau đó nhân rộng ra các địa bàn khác. Tháng 6-1945, Hồ Chí Minh ra Chỉ thị thành lập Khu giải phóng Việt Bắc, chọn Tân Trào làm thủ đô của Khu giải phóng.
Thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân (22-12-1944): Trong việc xây dựng lực lượng vũ trang, Hồ Chí Minh ra Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, giao cho Võ Nguyên Giáp trực tiếp đảm nhận nhiệm vụ này. Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân ra đời (đến tháng 5-1945 hợp nhất với Việt Nam Cứu quốc quân thành Việt Nam Giải phóng quân), trở thành lực lượng xung kích, hỗ trợ cho cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 thành công.
Thực hiện các hoạt động đối ngoại, đưa đến sự hợp tác, hỗ trợ của lực lượng Đồng minh đối với cách mạng Việt Nam: Từ năm 1945, thông qua vai trò vận động tích cực của Hồ Chí Minh, lực lượng của Mỹ ở Côn Minh (Trung Quốc) đã hợp tác với Mặt trận Việt Minh và hỗ trợ Mặt trận Việt Minh trên nhiều lĩnh vực.
Lãnh đạo Cách mạng tháng Tám năm 1945, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà: Từ ngày 13-8-1945, Hồ Chí Minh và Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương đã tận dụng thời cơ, phát lệnh Tổng khởi nghĩa trong cả nước và lãnh đạo toàn dân đứng lên giành chính quyền trước khi quân Đồng minh kéo vào Đông Dương.
Ngày 2-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.
4. Lãnh đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 – 1954)
a. Giai đoạn 1945 – 1946
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà phải đối mặt với nạn đói, nạn mù chữ, sự chống phá của các thế lực ngoại xâm và nội phản,.. Trong bối cảnh đó, Đảng và Chính phủ, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tìm cách đưa cách mạng Việt Nam vượt qua nhiều khó khăn, thử thách.
Trong việc giải quyết mối quan hệ Việt – Pháp (Từ đầu tháng 3 đến tưới ngày 19-12-1946), chủ tịch Hồ Chí Minh và Ban Thường vụ Trung ương Đảng thực hiện chủ trương “hoà để tiến”. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà chủ động kí với Pháp bản Hiệp định Sơ bộ (6-3-1946) và bản Tạm ước Việt – Pháp (14-9-1946).
Những hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong giai đoạn này đã giúp cách mạng Việt Nam tránh phải đối đầu cùng lúc với nhiều kẻ thù, đồng thời có thêm thời gian hoà bình để xây dựng chính quyền cách mạng và chuẩn bị lực lượng cho cuộc kháng chiến lâu dài với thực dân Pháp.
b. Giai đoạn 1946 – 1954
Trong giai đoạn 1946 – 1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng với Đảng và Chính phủ đã lãnh đạo nhân dân cả nước kết hợp thực hiện hai nhiệm vụ kháng chiến và kiến quốc.
Ngày 19-12-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, phát động cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp.
Trong những năm 1946 – 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã hoạch định đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp: Toàn dân, toàn diện, trường kì, tự lực cánh sinh và tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế. Năm 1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì Đại hội đại biểu lần thứ II của Đảng Cộng sản Đông Dương, điều chỉnh và bổ sung đường lối cách mạng Việt Nam trong tình hình mới.
Trong những năm kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh đẩy mạnh hoạt động ngoại giao với Pháp, các nước Đông Dương; chủ động thiết lập và mở rộng quan hệ ngoại giao với Liên Xô, Trung Quốc, các nước Đông Âu nhằm tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của bên ngoài đối với cuộc kháng chiến.
Chủ tịch Hồ Chí Minh còn tham gia họp bàn và chỉ đạo các chiến dịch quan trọng trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, tiêu biểu là các chiến dịch: Việt Bắc thu – đông (1947), Biên giới thu – đông (1950), đặc biệt là cuộc Tiến công chiến lược Đông – Xuân 1953 – 1953 và chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ (1954).
Là người lãnh đạo cao nhất của cuộc kháng chiến, những hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã góp phần quan trọng đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đi đến thắng lợi (1954).
5. Lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (từ 1954 – 1969)
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh có những đóng góp to lớn đối với việc thực hiện nhiệm vụ chiến lược của cách mạng ở mỗi miền Nam – Bắc và nhiệm vụ chung của cả nước.
Đối với nhiệm vụ xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì và chỉ đạo xây dựng Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng Lao động Việt Nam (9-1960). Nghị quyết nêu rõ: Đại hội này là Đại hội xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất nước nhà.
Đối với cách mạng miền Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì Hội nghị lần thứ 15 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (1-1959), ra quyết định quan trọng: Để nhân dân miền Nam sử dụng bạo lực cách mạng đánh đổ chính quyền Mỹ – Diệm. Từ năm 1965, khi Mỹ đưa quân trực tiếp vào miền Nam và mở rộng chiến tranh phá hoại miền Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng với Trung ương Đảng phân tích tình hình, chỉ đạo toàn dân đánh Mỹ, đưa ra dự báo và thể hiện quyết tâm thắng Mỹ.
Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là biểu tượng của sức mạnh đại đoàn kết dân tộc và sức mạnh thời đại, có vai trò to lớn về hoạt động ngoại giao. Trong các chuyến thăm nước ngoài (Liên Xô, Trung Quốc, Cộng hoà Dân chủ Đức,..), Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của các nước và bạn bè quốc tế. Để nhân dân thế giới hiểu rõ và đồng tình ủng hộ cuộc kháng chiến chính nghĩa của Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đại diện cho tiếng nói của nhân dân Việt Nam vạch trần tội ác chiến tranh của Mỹ trên cả hai miền Nam – Bắc, đón tiếp bạn bè quốc tế phản đối chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam, trong đó có nhân sĩ, trí thức Mỹ.
Ngày 2-9-1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời tại Hà Nội.
PHẦN III. DẤU ẤN HỒ CHÍ MINH TRONG LÒNG NHÂN DÂN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là nhà lãnh đạo vĩ đại của nhân dân Việt Nam mà còn là một biểu tượng toàn cầu của phong trào đấu tranh giành độc lập và tự do dân tộc. Cuộc đời và sự nghiệp của Người đã ghi dấu ấn đậm nét trong lòng nhân dân thế giới, đặc biệt là các dân tộc bị áp bức, các quốc gia thuộc địa. Bằng tài năng, lòng nhiệt huyết và tầm nhìn sâu rộng, Hồ Chí Minh đã để lại dấu ấn không phai nhòa trong trái tim của hàng triệu người dân trên toàn thế giới. Từ châu Á, châu Phi, châu Mỹ Latinh đến châu Âu, tấm gương của Người đã truyền cảm hứng cho nhiều thế hệ đấu tranh chống lại sự bất công, giành quyền tự do và bình đẳng.
Chủ tịch Hồ Chí Minh là người tìm ra con đường giải phóng dân tộc và lãnh đạo nhân dân Việt Nam giành độc lập dân tộc, góp phần vào sự nghiệp đấu tranh vì hoà bình, dân chủ, tự do và tiến bộ xã hội trên thế giới. Người là biểu tượng của sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, đoàn kết các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới.
Chủ tịch Hồ Chí Minh hội tụ tinh hoa, giá trị cả văn hoá phương Đông và văn hoá phương Tây. Người đã phát triển quyền con người thành quyền dân tộc; những tư tưởng lớn của Người mang tầm vóc vĩ nhân của thời đại, lại được biểu hiện một cách chân thực, rất mực giản dị và gần gũi với mọi người.
Năm 1987, cuộc họp của Đại hội đồng UNESCO lần thứ 24 ở Pa-ri (Pháp) đã ra Nghị quyết số 24C/18.65, ghi nhận: “Năm 1990 sẽ đánh dấu 100 năm kỉ niệm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Anh hùng giải phóng dân tộc và Nhà văn hoá kiệt xuất của Việt Nam”. Thế giới vinh danh Chủ tịch Hồ Chí Minh xuất phát từ hai nguyên nhân chủ yếu: Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, đồng thời góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc trên thế giới, vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội; Chủ tịch Hồ Chí Minh còn có đóng góp quan trọng về nhiều mặt trên các lĩnh vực tư tưởng, văn hoá, giáo dục, nghệ thuật, nhân cách, lối sống,… Những đóng góp của Chủ tịch Hồ Chí Minh là sự kết tinh của truyền thống văn hoá Việt Nam và tinh hoa văn hoá của nhân loại.
Cùng với việc vinh danh, Nghị quyết của UNESCO cũng kêu gọi các nước tổ chức những hoạt động cụ thể để tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hiện nay, tượng và tượng đài tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có mặt tại nhiều quốc gia trên thế giới như: Lào, Phi-líp-pin, Thái Lan, Xin-ga-po, Ấn Độ, Mông Cổ (châu Á); Hung-ga-ri, Nga, Pháp (châu Au); Ác-hen-ti-na, Chi-lê, Cu-ba, Mê-hi-cô, Pa-na-ma (châu Mỹ),… Tên của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã được đặt cho nhiều quảng trường, trường học và đường phố,… tại nhiều quốc gia trên thế giới, từ châu Á, châu Âu đến châu Phi, châu Mỹ.
Tại một số quốc gia, nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh từng đến và hoạt động đều có những công trình di tích tưởng niệm như: Khách sạn Ca-tơn (Anh) – nơi Chủ tịch Hồ Chí Mình làm việc và hoạt động cuối năm 1913; Nhà số 9, Thủ đô Pa-ri (Pháp) – nơi Người ở và hoạt động cách mạng những năm 1921 – 1923; Nhà số 248 và 250 (trước là nhà số 13 và 13/1) đường Văn Minh, thành phố Quảng Châu (Trung Quốc) – nơi Hồ Chí Minh mở các lớp đào tạo cán bộ (1925-1927); Khu di tích Hồ Chí Minh tại Liễu Châu, Quảng Tây (Trung Quốc)….
Ngày nay, hình ảnh Hồ Chí Minh vẫn hiện hữu trên khắp thế giới, qua các công trình tưởng niệm, đường phố, trường học mang tên Người. Tư tưởng và tấm gương của Người vẫn tiếp tục truyền cảm hứng cho hàng triệu người đấu tranh vì tự do, công bằng và hòa bình. Hồ Chí Minh đã trở thành một biểu tượng vượt qua biên giới quốc gia, là nguồn động lực lớn cho những người yêu chuộng hòa bình và công lý trên toàn thế giới. Dấu ấn Hồ Chí Minh trong lòng nhân dân thế giới không chỉ là dấu ấn của một nhà lãnh đạo kiên cường mà còn là dấu ấn của một con người với trái tim nhân ái, một nhân cách lớn mà sự nghiệp và tư tưởng sẽ còn mãi mãi trường tồn cùng thời gian.
Phần IV. HỒ CHÍ MINH “SỐNG MÃI” TRONG LÒNG NHÂN DÂN VIỆT NAM
Chủ tịch Hồ Chí Minh là một biểu tượng sáng ngời của tinh thần dân tộc, lòng yêu nước và tình yêu thương vô bờ bến đối với nhân dân Việt Nam. Cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Người đã để lại một dấu ấn sâu sắc trong lòng dân tộc Việt Nam, trở thành nguồn cảm hứng vô tận cho các thế hệ về sau. Ngay từ khi còn trẻ, Hồ Chí Minh đã nhìn thấy rõ nỗi thống khổ của đồng bào dưới ách đô hộ của thực dân, và với một trái tim nhiệt huyết, Người đã dành trọn cuộc đời mình để đấu tranh giành lại độc lập, tự do cho quê hương. Quyết định ra đi tìm đường cứu nước năm 1911 là cột mốc khởi đầu cho hành trình hơn ba mươi năm bôn ba, gian khổ khắp năm châu để tìm kiếm con đường giải phóng cho dân tộc Việt Nam. Tinh thần ấy đã tạo nên hình ảnh một lãnh tụ vĩ đại, hết lòng vì dân vì nước, in đậm trong tâm hồn của mỗi người dân Việt Nam. Sinh ra và hoạt động trong thế kỉ XX nhưng tên tuổi và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh sống mãi trong lòng nhân dân Việt Nam.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cống hiến và hi sinh cả cuộc đời cho dân tộc Việt Nam, đặc biệt là trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng chủ nghĩa xã hội và thống nhất đất nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là tấm gương sáng về đạo đức, phẩm chất, lối sống cho các thế hệ người dân Việt Nam học tập và noi theo; đồng thời để lại di sản lớn trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là những giá trị về tư tưởng, văn hoá.
Nhân dân Việt Nam gọi Chủ tịch Hồ Chí Minh là Bác Hồ – Người đã cống hiến trọn đời mình cho dân tộc. Người “chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do”. Người đã đặt ra những cơ sở đảm bảo và chỉ dẫn, soi đường cho quá trình “Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phần đấu, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”.
Sự vinh danh và tri ân của nhân dân Việt Nam đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh được nối tiếp qua nhiều thế hệ với những hình thức khác nhau. Trên khắp cả nước, chính quyền và nhân dân các địa phương đã xây dựng nhiều công trình mang tên Hồ Chí Minh như bảo tàng, nhà lưu niệm, nhà truyền thống, quảng trường, tượng đài, khu di tích,… Nhiều cơ sở giáo dục và đào tạo (trường học, học viện), đường phố,… mang tên Nguyễn Tất Thành, Nguyễn Ái Quốc, Hồ Chí Mnh.
Trong các loại hình văn học, Chủ tịch Hồ Chí Minh trở thành nguồn cảm hứng để giới văn nghệ sĩ sáng tác, tiêu biểu như các tác phẩm: Sáng tháng Năm, Bác ơi (Tố Hữu); Người đi tìm hình của nước (Chế Lan Viên); Búp sen xanh, Cuộc chia li trên Bến Nhà Rồng (Sơn Tùng); Trông vời cố quốc (Hoàng Quảng Uyên),…
Trong lĩnh vực nghệ thuật, Chủ tịch Hồ Chí Minh là chủ đề lớn cho nhiều nhạc sĩ sáng tác, các nhà biên kịch xây dựng kịch bản và các nghệ sĩ biểu diễn phục vụ công chúng, đặc biệt vào dịp kỉ niệm những ngày lễ lớn, tiêu biểu như các bộ phim: Hẹn gặp lại Sài Gòn (Sơn Tùng viết, Long Vân đạo diễn); Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông (kịch bản của Hữu Mai, Nguyễn Khắc Lợi đạo diễn)….
Nhằm phát huy giá trị to lớn của tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh, tháng 11-2006, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã ban hành Chỉ thị số 06/CT/TW, phát động cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Từ đó, cuộc vận động đã lan toả đến các thế hệ cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, mang lại hiệu quả tích cực trên nhiều lĩnh vực của đời sống chính trị, xã hội.
Năm 2016, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam ban hành Chỉ thị 05-CT/TW “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”. Việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh được xác định gắn với quá trình xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
Ngày nay, hình ảnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn luôn hiện hữu trong lòng người dân Việt Nam, không chỉ qua các tượng đài, đường phố mang tên Người, mà còn qua tinh thần, lối sống và hành động của từng người dân Việt Nam. Mỗi khi đất nước gặp khó khăn, hình ảnh Hồ Chí Minh như một nguồn động viên tinh thần to lớn, nhắc nhở mỗi người dân Việt Nam về truyền thống đoàn kết, kiên cường, bất khuất của dân tộc. Các phong trào học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh đã lan tỏa rộng khắp, giúp cho người dân Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ, có thêm động lực phấn đấu, học tập và làm việc vì một xã hội tốt đẹp hơn. Dấu ấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong lòng nhân dân Việt Nam là dấu ấn của một nhà lãnh đạo vĩ đại, một người bạn gần gũi của nhân dân, và một tấm gương sáng về đạo đức và nhân cách. Cuộc đời và sự nghiệp của Người đã để lại cho dân tộc Việt Nam một di sản vô giá về tinh thần yêu nước, lòng nhân ái và ý chí kiên cường. Hình ảnh của Hồ Chí Minh mãi mãi là nguồn cảm hứng, là niềm tự hào, là động lực để người dân Việt Nam tiếp tục xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Những giá trị mà Hồ Chí Minh để lại không chỉ là những giá trị của thời đại của Người mà còn là giá trị vượt thời gian, mãi mãi trường tồn trong lòng dân tộc và đất nước Việt Nam.
Phần V. HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG, ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH CỦA LÃNH ĐẠO, GIÁO VIÊN, NHÂN VIÊN VÀ HỌC SINH TRƯỜNG THPT TAM PHÚ
Việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là nhiệm vụ quan trọng của mọi người dân Việt Nam mà còn là kim chỉ nam cho từng cơ quan, trường học, và đặc biệt là các trường THPT trong việc giáo dục toàn diện cho học sinh. Tại trường THPT Tam Phú, việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh đã trở thành phong trào rộng khắp, lan tỏa từ lãnh đạo đến giáo viên, nhân viên, và từng em học sinh. Điều này không chỉ thể hiện qua các hoạt động giảng dạy và học tập mà còn thấm nhuần trong các giá trị đạo đức, lối sống, cách ứng xử và tinh thần phục vụ cộng đồng của từng thành viên trong nhà trường.
Đối với ban lãnh đạo trường, việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trước hết là sự nêu gương trong phong cách lãnh đạo và quản lý. Hồ Chí Minh từng dạy rằng: “Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền” và lãnh đạo trường THPT Tam Phú đã cụ thể hóa tư tưởng này trong công việc hàng ngày. Các thầy cô trong ban lãnh đọa trường luôn lắng nghe ý kiến của giáo viên, học sinh và phụ huynh nhằm tạo ra một môi trường học tập dân chủ, công bằng và thân thiện. Tấm gương của Hồ Chí Minh về phong cách lãnh đạo gần gũi, giản dị đã được các lãnh đạo trường áp dụng, giúp xây dựng mối quan hệ đoàn kết, gắn bó giữa các giáo viên và tạo niềm tin trong lòng học sinh. Các thầy cô lãnh đạo không chỉ đưa ra những quyết định công tâm mà còn luôn tìm cách đổi mới phương pháp quản lý, tạo điều kiện tốt nhất cho giáo viên và học sinh phát huy hết năng lực của mình.
Bên cạnh đó, lãnh đạo trường cũng chú trọng trong việc giáo dục, bồi dưỡng tư tưởng và đạo đức cách mạng cho học sinh. Mỗi sáng thứ hai chào cờ đầu tuần luôn kết hợp với hoạt động kể chuyện về Bác Hồ không chỉ giúp học sinh hiểu hơn về lịch sử dân tộc mà còn tạo động lực để các em sống và học tập theo những giá trị tốt đẹp mà Bác Hồ đã đề cao. Lãnh đạo trường cũng kết hợp với các tổ chức Đoàn, Hội để triển khai các hoạt động thi đua, như “Tuần lễ học tập và làm theo lời Bác” nhằm khuyến khích học sinh rèn luyện đạo đức, nề nếp, và tinh thần học tập không ngừng.
Đối với giáo viên, việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh được thể hiện rõ nhất trong tinh thần “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”. Các thầy cô luôn nỗ lực hết mình để hoàn thành công việc giảng dạy, không ngừng học hỏi, tự trau dồi chuyên môn để đem đến cho học sinh những bài giảng sâu sắc và bổ ích nhất. Thấm nhuần lời dạy của Bác Hồ về vai trò của người thầy, các giáo viên tại trường THPT Tam Phú đã và đang không ngừng phấn đấu để trở thành những tấm gương sáng cho học sinh noi theo. Tinh thần cần cù, chăm chỉ, tận tụy vì học sinh của các thầy cô là minh chứng rõ ràng nhất cho việc học tập tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.
Không chỉ vậy, giáo viên tại trường còn luôn chú trọng xây dựng phong cách sống giản dị, gần gũi và thân thiện với học sinh. Các thầy cô không chỉ là người truyền đạt kiến thức mà còn là người bạn đồng hành, luôn sẵn sàng lắng nghe, chia sẻ và hỗ trợ học sinh trong học tập và cuộc sống. Nhờ đó, học sinh trường THPT Tam Phú luôn cảm thấy tin tưởng, gắn bó với thầy cô, tạo nên môi trường học đường thân thiện, cởi mở. Giáo viên cũng tích cực tham gia các phong trào thi đua dạy tốt, học tốt, gắn kết bài học với các giá trị đạo đức của Hồ Chí Minh, giúp học sinh hiểu sâu hơn về ý nghĩa của lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, và lòng nhân ái trong cuộc sống hàng ngày.
Nhân viên nhà trường cũng là những người học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Hồ Chí Minh qua từng công việc nhỏ nhặt, hàng ngày. Với trách nhiệm hỗ trợ công việc giảng dạy và đảm bảo điều kiện tốt nhất cho học sinh, nhân viên trường luôn làm việc với tinh thần trách nhiệm, tận tụy, không ngại khó khăn. Họ hiểu rằng mỗi việc làm của mình, từ vệ sinh, bảo trì đến hỗ trợ tổ chức sự kiện, đều đóng góp vào sự thành công chung của nhà trường. Tinh thần “dĩ công vi thượng” của Hồ Chí Minh đã trở thành kim chỉ nam cho các nhân viên trong trường, giúp họ hoàn thành công việc một cách tận tâm và hiệu quả. Sự chu đáo, tỉ mỉ trong từng công việc của nhân viên đã góp phần tạo nên môi trường học đường trong sạch, an toàn, từ đó gián tiếp góp phần giáo dục học sinh về ý thức giữ gìn và trân trọng những thành quả lao động.
Đối với học sinh trường THPT Tam Phú, việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh không chỉ dừng lại ở việc học thuộc những bài giảng về Bác mà còn là việc rèn luyện đạo đức, tác phong, và tinh thần học tập không ngừng. Các em được khuyến khích phát huy tinh thần tự học, tự giác trong học tập, không ngừng phấn đấu vượt qua khó khăn để vươn lên. Thông qua những hoạt động ngoại khóa như thăm viếng di tích lịch sử, tham gia các buổi diễn đàn về tư tưởng Hồ Chí Minh, các em có cơ hội hiểu thêm về Bác, về những giá trị cao đẹp mà Người đã để lại cho dân tộc. Từ đó, nhiều học sinh đã hình thành được ý thức trách nhiệm, lòng biết ơn, và tình yêu đất nước, quyết tâm học tập, rèn luyện để trở thành những công dân có ích cho xã hội.
Các hoạt động Đoàn thể cũng là cơ hội để học sinh thể hiện tinh thần học tập và làm theo gương Bác. Nhà trường còn khuyến khích học sinh tham gia vào các hoạt động xã hội, như chương trình thiện nguyện, bảo vệ môi trường, giúp đỡ các bạn có hoàn cảnh khó khăn. Qua đó, các em không chỉ học được lòng nhân ái, sự sẻ chia mà còn ý thức được trách nhiệm của mình với cộng đồng, với xã hội, đúng như tư tưởng Hồ Chí Minh về “sống là cho, đâu chỉ nhận riêng mình.”
Tóm lại, việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh tại trường THPT Tam Phú đã trở thành nền tảng vững chắc giúp xây dựng một tập thể đoàn kết, giàu tình thương và trách nhiệm. Từ lãnh đạo đến giáo viên, nhân viên và học sinh, mỗi người đều có những cách riêng để học tập và làm theo gương Bác, nhưng tất cả đều hướng đến mục tiêu chung là xây dựng một môi trường học tập và rèn luyện đạo đức toàn diện. Những giá trị cao đẹp của Hồ Chí Minh đã và đang lan tỏa mạnh mẽ, góp phần tạo nên một thế hệ trẻ đầy nhiệt huyết, yêu nước và có lý tưởng sống cao đẹp. Phong trào này không chỉ giúp từng cá nhân hoàn thiện bản thân mà còn đóng góp tích cực vào sự phát triển của nhà trường, của cộng đồng và đất nước.
.
Nguyễn Thị Ngọc Nhi-Tổ Sử
Năm học 2024-2025
